ĐỀ CƯƠNG GIỚI THIỆU LUẬT QUỐC PHÒNG NĂM 2018 (Phần 2)
loading...
15:43 11/01/2019

3. Tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, thiết quân luật, giới nghiêm (Chương III) - Tuyên bố, công bố, bãi bỏ tình trạng chiến tranh (Điều 17) Kế thừa Điều 29 về tuyên bố tình trạng chiến tranh và Điều 36 bãi bỏ lệnh tuyên bố tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp về quốc phòng; lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ của Luật Quốc phòng năm 2005, Luật Quốc phòng năm 2018 quy định về tuyên bố, công bố, bãi bỏ tình trạng chiến tranh như sau: 1. Khi Tổ quốc bị xâm lược, Quốc hội quyết định tình trạng chiến tranh. Khi hành vi xâm lược được chấm dứt trên thực tế, Quốc hội quyết định bãi bỏ tình trạng chiến tranh. 2. Trong trường hợp Quốc hội không thể họp được, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định việc tuyên bố tình trạng chiến tranh và báo cáo Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất. 3. Căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội hoặc của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước công bố, bãi bỏ quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh. - Ban bố, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp về quốc phòng (Điều 18) Nội dung này về cơ bản kế thừa Điều 31 về ban bố tình trạng khẩn cấp về quốc phòng và Điều 36 bãi bỏ lệnh tuyên bố tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp về quốc phòng; lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ của Luật Quốc phòng năm 2005. Theo đó, Luật Quốc phòng năm 2018 quy định: khi xảy ra tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định ban bố tình trạng khẩn cấp về quốc phòng trong cả nước hoặc ở từng địa phương theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ. Khi không còn tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định bãi bỏ tình trạng khẩn cấp về quốc phòng theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ. Căn cứ vào nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước công bố quyết định ban bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp về quốc phòng trong cả nước hoặc ở từng địa phương. Trong trường hợp Ủy ban Thường vụ Quốc hội không thể họp được, Chủ tịch nước công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp về quốc phòng trong cả nước hoặc ở từng địa phương theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ. Luật Quốc phòng năm 2018 giao Chính phủ quy định việc thi hành quyết định ban bố, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp về quốc phòng. - Tổng động viên, động viên cục bộ (Điều 19) Nội dung này được xây dựng trên cơ sở kế thừa quy định tại Điều 30, Điều 36 Luật Quốc phòng năm 2005 và được sửa đổi, bổ sung để cụ thể hóa một số quy định tại Điều 74, Điều 88 Hiến pháp năm 2013 và văn bản QPPL hiện hành. Theo đó, điểm mới nổi bật của Luật Quốc phòng năm 2018 là bổ sung quy định “Quân đội nhân dân, Dân quân tự vệ được chuyển vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu phù hợp” và “mở rộng lực lượng Dân quân tự vệ”. Các quy định này đã luật hóa quy định tại Thông tư số 33/2016/TT-BQP ngày 29/3/2016 của Bộ Quốc phòng hướng dẫn một số Điều của Luật Dân quân tự vệ và Nghị định số 33/2016/NĐ-CP ngày 5/01/2016 của Chính phủ quy định chi tiết và và biện pháp thi hành một số điều của Luật Dân quân tự vệ. - Quyền hạn của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp về quốc phòng (Điều 20) Nội dung này về cơ bản giữ nguyên quy định tại Điều 35 Luật Quốc phòng năm 2005 và thiết kế thành 02 khoản quy định như sau: 1. Căn cứ vào quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh hoặc quyết định ban bố tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có quyền ra mệnh lệnh đặc biệt để bảo đảm cho nhiệm vụ chiến đấu tại khu vực có chiến sự. 2. Người đứng đầu chính quyền địa phương, cơ quan, tổ chức nơi có chiến sự phải chấp hành mệnh lệnh đặc biệt của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. - Thiết quân luật (Điều 21) Điểm mới nổi bật của nội dung này là quy định về hạn chế quyền con người, quyền công dân trong thực hiện lệnh thiết quân luật. Theo quy định tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của Luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng. Theo đó, khoản 6 Điều 21 Luật Quốc phòng năm 2018 quy định các biện pháp đặc biệt được áp dụng trong thời gian thi hành lệnh thiết quân luật bao gồm: 1. Cấm hoặc hạn chế người, phương tiện đi lại; đình chỉ hoặc hạn chế hoạt động tại các nơi công cộng. 2. Cấm biểu tình, đình công, bãi thị, bãi khóa, tụ tập đông người. 3. Bắt giữ hoặc cưỡng chế cá nhân, tổ chức có hoạt động xâm hại đến quốc phòng, an ninh phải rời khỏi hoặc cấm đi khỏi nơi cư trú hoặc một khu vực nhất định. 4. Huy động người, phương tiện của cơ quan, tổ chức, cá nhân. 5. Quản lý đặc biệt đối với các loại vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ; kiểm soát chặt chẽ cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, phương tiện thông tin, hoạt động báo chí, xuất bản, cơ sở in, sao chụp, việc thu thập, sử dụng thông tin. - Giới nghiêm (Điều 22) Tương tự như Điều 21, điểm mới của Điều 22 Luật Quốc phòng năm 2018 cũng quy định hạn chế quyền công dân trong thực hiện giới nghiêm, cụ thể quy định các biện pháp được áp dụng trong thời gian giới nghiêm bao gồm: 1. Cấm tụ tập đông người. 2. Cấm người, phương tiện đi lại, hoạt động trong những giờ nhất định, tại những khu vực nhất định. 3. Đình chỉ hoặc hạn chế hoạt động tại một số nơi công cộng trong những thời điểm nhất định. 4. Đặt trạm canh gác và kiểm soát địa bàn, kiểm tra vật phẩm, hành lý, phương tiện, giấy tờ của người đi lại qua trạm canh gác và kiểm soát. 5. Kịp thời bắt giữ và xử lý người, phương tiện vi phạm lệnh giới nghiêm và vi phạm quy định khác của pháp luật. 4. Lực lượng vũ trang nhân dân (Chương IV) - Thành phần, nhiệm vụ của lực lượng vũ trang nhân dân (Điều 23) Nội dung này về cơ bản kế thừa Điều 12 Luật Quốc phòng năm 2005. Tuy nhiên, Điều 23 Luật Quốc phòng năm 2018 sửa đổi tên thành “Thành phần, nhiệm vụ của lực lượng vũ trang nhân dân” để bảo đảm tên điều không trùng với tên Chương IV Luật Quốc phòng năm 2018. - Nguyên tắc hoạt động và trường hợp sử dụng lực lượng vũ trang nhân dân (Điều 24) Điểm mới nổi bật của điều này là đã quy định đầy đủ các trường hợp sử dụng lực lượng vũ trang nhân dân nhằm tạo hành lang pháp lý rõ ràng, minh bạch, khắc phục chồng chéo về nhiệm vụ của Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Dân quân tự vệ trong các trường hợp sử dụng lực lượng vũ trang nhân dân. Theo đó, Luật Quốc phòng năm 2018 quy định các trường hợp sau được sử dụng lực lượng vũ trang nhân dân: 1. Trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp về quốc phòng thực hiện theo lệnh của Chủ tịch nước và quy định khác của pháp luật có liên quan. 2. Trong thi hành lệnh thiết quân luật, giới nghiêm thực hiện theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan. 3. Trong tình trạng khẩn cấp do thảm họa, dịch bệnh nguy hiểm hoặc tình hình đe dọa nghiêm trọng đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội thực hiện theo quy định của pháp luật về tình trạng khẩn cấp và quy định khác của pháp luật có liên quan. 4. Khi có nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội nhưng chưa đến mức ban bố tình trạng khẩn cấp thực hiện theo quy định của pháp luật về an ninh quốc gia và quy định khác của pháp luật có liên quan. 5. Khi tham gia hoạt động góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới thực hiện theo quyết định của Hội đồng Quốc phòng và An ninh. 6. Khi xảy ra tình huống phức tạp về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; đấu tranh phòng, chống tội phạm; tham gia phòng, chống, khắc phục sự cố, thiên tai, dịch bệnh, việc sử dụng lực lượng vũ trang do Chính phủ quy định. - Quân đội nhân dân (Điều 25) Điểm mới của nội dung này là đã quy định “Quân đội nhân dân có chức năng, nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu bảo vệ Tổ quốc; thực hiện công tác vận động, tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế - xã hội, tham gia phòng thủ dân sự, cùng toàn dân xây dựng đất nước; thực hiện nghĩa vụ quốc tế” nhằm thể chế hóa chủ trương, quan điểm của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh về Quân đội nhân dân, phù hợp với truyền thống và thực tiễn xây dựng chiến đấu, trưởng thành của Quân đội nhân dân hơn 70 năm qua. Đồng thời, Luật Quốc phòng năm 2018 quy định “Nhà nước xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có lực lượng thường trực hợp lý, lực lượng dự bị động viên hùng hậu; một số lực lượng tiến thẳng lên hiện đại” nhằm thể chế Nghị quyết số 28-NQ/TW, Nghị quyết số 24-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược Quốc phòng Việt Nam, Kết luận số 31-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược Quân sự Việt Nam. - Công an nhân dân (Điều 26) Kế thừa quy định tại Điều 17 Luật Quốc phòng năm 2005, Luật Quốc phòng năm 2018 đã quy định đầy đủ, toàn diện hơn về Công an nhân dân. Theo đó, quy định Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm. Chức năng, nhiệm vụ, tổ chức, chỉ huy, bảo đảm hoạt động, chế độ phục vụ và chế độ, chính sách của Công an nhân dân thực hiện theo quy định của Luật Công an nhân dân và quy định khác của pháp luật có liên quan. Để thể chế Nghị quyết số 28-NQ/TW, Luật Quốc phòng năm 2018 quy định Nhà nước xây dựng Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; ưu tiên hiện đại hóa một số lực lượng. Công an nhân dân có trách nhiệm phối hợp với Quân đội nhân dân, Dân quân tự vệ trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng. Việc phối hợp giữa Công an nhân dân với Quân đội nhân dân, Dân quân tự vệ theo quy định của Chính phủ. - Dân quân tự vệ (Điều 27) Điểm mới nổi bật của điều này là bổ sung quy định “Nhà nước xây dựng lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh và rộng khắp” tại khoản 2, để phù hợp với Điều 66 Hiến pháp năm 2013. Đồng thời bổ sung quy định về “chế độ, chính sách” đối với Dân quân tự vệ, để thống nhất với Luật Dân quân tự vệ. - Chỉ huy Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và Dân quân tự vệ (Điều 28) Kế thừa quy định của Điều 16 Luật Quốc phòng năm 2005, Luật Quốc phòng năm 2018 bổ sung một khoản quy định “Bộ trưởng Bộ Công an là người chỉ huy cao nhất trong Công an nhân dân” (khoản 3 Điều 28). 5. Bảo đảm quốc phòng (Chương V) - Bảo đảm nguồn nhân lực (Điều 29) Nội dung này được xây dựng trên cơ sở kế thừa quy định của Điều 37 Luật Quốc phòng năm 2005, theo đó, Điều 29 Luật Quốc phòng năm 2018 quy định: công dân Việt Nam là nguồn nhân lực chủ yếu của quốc phòng; nhà nước có chính sách, kế hoạch xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực; ưu tiên thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao để bảo đảm cho nhiệm vụ quốc phòng. - Bảo đảm nguồn lực tài chính (Điều 30) Nội dung này kế thừa quy định của Điều 38 Luật Quốc phòng năm 2005, tuy nhiên, Luật Quốc phòng năm 2018 đã bỏ nội dung quy định tại khoản 3, Điều 38, Luật Quốc phòng năm 2005 “Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài đóng góp tài sản cho quốc phòng trên nguyên tắc tự nguyện, không trái với quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”. - Bảo đảm tài sản phục vụ quốc phòng (Điều 31) Kế thừa các quy định tại Điều 39 Luật Quốc phòng năm 2005 và để cụ thể hóa quy định tại Điều 53 Hiến pháp năm 2013, trong đó đất đai là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý; để thống nhất với Điều 64 Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017, Luật Quốc phòng năm 2018 quy định tài sản phục vụ quốc phòng là tài sản công do Nhà nước thống nhất quản lý và bảo đảm bao gồm: 1. Tài sản công tại cơ quan, tổ chức, đơn vị Quân đội nhân dân, Dân quân tự vệ bao gồm tài sản đặc biệt, tài sản chuyên dùng, tài sản phục vụ công tác quản lý về quốc phòng theo quy định của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, Luật Đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan. 2. Tài sản trưng mua, trưng dụng, huy động và tài sản khác được Nhà nước giao cho Bộ Quốc phòng, cơ quan, tổ chức, địa phương quản lý phục vụ quốc phòng theo quy định của pháp luật. Nhà nước có kế hoạch xây dựng dự trữ quốc gia để bảo đảm cho quốc phòng. Việc quản lý, sử dụng dự trữ quốc gia để bảo đảm cho quốc phòng thực hiện theo quy định của pháp luật về dự trữ quốc gia. - Bảo đảm phục vụ quốc phòng trong lĩnh vực kinh tế - xã hội và đối ngoại (Điều 32) Luật Quốc phòng năm 2005 đã quy định việc bảo đảm phục vụ quốc phòng trên các lĩnh vực thông tin liên lạc, thông tin tuyên truyền; y tế; công trình quốc phòng và khu quân sự; giao thông. Tuy nhiên thực tiễn việc bảo đảm phục vụ quốc phòng không chỉ ở các lĩnh vực nêu trên, vì vậy Luật Quốc phòng năm 2018 sửa đổi theo hướng dành một điều quy định về bảo đảm phục vụ quốc phòng trong lĩnh vực kinh tế - xã hội và đối ngoại, cụ thể như sau: 1. Chính phủ có kế hoạch bảo đảm phục vụ quốc phòng trong lĩnh vực kinh tế - xã hội và đối ngoại. 2. Bộ, ngành trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phối hợp với Bộ Quốc phòng, cơ quan, tổ chức liên quan xây dựng kế hoạch bảo đảm phục vụ quốc phòng và tổ chức thực hiện theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan. 3. Nhà nước có quy hoạch, kế hoạch và xây dựng hệ thống các công trình quốc phòng, khu quân sự, kho đạn dược, công nghiệp quốc phòng, an ninh; hệ thống trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng; kế hoạch xây dựng khu kinh tế - quốc phòng trong phạm vi cả nước. - Bảo đảm hoạt động của lực lượng vũ trang nhân dân (Điều 33) Kế thừa quy định tại Điều 18 Luật Quốc phòng năm 2005 và để phù hợp với quy định của Điều 31 Luật Quốc phòng năm 2018, Điều 33 Luật Quốc phòng năm 2018 quy định: “Nhà nước bảo đảm nhu cầu tài chính, tài sản sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh và các chế độ, chính sách đãi ngộ phù hợp với tính chất hoạt động đặc thù của lực lượng vũ trang nhân dân”. 6. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức về quốc phòng (Chương VI) - Nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ (Điều 34) Về cơ bản nội dung này kế thừa quy định tại Điều 44 Luật Quốc phòng năm 2005, điểm mới nổi bật của Luật Quốc phòng năm 2018 là bổ sung quy định “Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về quốc phòng; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Hiến pháp và pháp luật có liên quan” để thống nhất với quy định của Luật tổ chức Chính phủ. - Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Quốc phòng (Điều 35) Nội dung này được xây dựng trên cơ sở kế thừa quy định của Điều 45 Luật Quốc phòng năm 2005. Điểm mới của Luật Quốc phòng năm 2018 là bổ sung quy định về nhiệm vụ của Bộ Quốc phòng trong duy trì an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở khu vực biên giới, cửa khẩu, hải đảo, vùng biển và vùng trời của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên để thống nhất với Luật Biên giới quốc gia, Luật An ninh quốc gia, Luật Công an nhân dân. - Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ, ngành trung ương (Điều 36) Kế thừa quy định của Điều 46 Luật Quốc phòng năm 2005, nhằm bổ sung một số quy định mới phù hợp với Điều 36 Luật Biên giới quốc gia; thẩm quyền về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác của từng cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật và sự kết hợp giữa kinh tế, văn hóa, xã hội và quốc phòng, an ninh theo quan điểm của Đảng. Luật Quốc phòng năm 2018 quy định Bộ, ngành trung ương, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, phối hợp với Bộ Quốc phòng trong quản lý nhà nước về quốc phòng và có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: 1. Ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật, văn bản chỉ đạo, hướng dẫn để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan. 2. Chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng và cơ quan, tổ chức liên quan thực hiện việc kết hợp kinh tế - xã hội, an ninh, đối ngoại với quốc phòng của ngành, lĩnh vực được giao phụ trách phù hợp với chiến lược bảo vệ Tổ quốc. 3. Phối hợp với Bộ Quốc phòng tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, đề án về quốc phòng theo nhiệm vụ được giao. 4. Tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân, khu vực phòng thủ, lực lượng vũ trang nhân dân theo quy định của pháp luật và sự chỉ đạo, hướng dẫn của cấp có thẩm quyền. 5. Chủ trì hoặc phối hợp với Bộ Quốc phòng định kỳ hoặc đột xuất thanh tra, kiểm tra, sơ kết, tổng kết trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng. 6. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác về quốc phòng theo quy định của pháp luật. - Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân các cấp (Điều 37) Kế thừa quy định của Điều 47 Luật Quốc phòng năm 2005, Luật Quốc phòng năm 2018 bổ sung một số quy định mới phù hợp với nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân các cấp về quốc phòng quy định tại Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015. Theo đó, Luật Quốc phòng năm 2018 quy định Hội đồng nhân dân các cấp có nhiệm vụ, quyền hạn sau: 1. Quyết định biện pháp bảo đảm thực hiện nhiệm vụ quốc phòng theo quy định của pháp luật. 2. Quyết định chủ trương, biện pháp nhằm phát huy tiềm năng của địa phương để xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân vững mạnh, xây dựng tiềm lực quốc phòng, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc toàn diện. 3. Quyết định chủ trương, biện pháp xây dựng lực lượng Dân quân tự vệ, dự bị động viên; quyết định chủ trương, biện pháp kết hợp quốc phòng với kinh tế - xã hội, kinh tế - xã hội với quốc phòng, kết hợp quốc phòng với an ninh, đối ngoại của địa phương. 4. Căn cứ vào lệnh của Chủ tịch nước, quyết định chủ trương, biện pháp để thực hiện nhiệm vụ trong tình trạng khẩn cấp về quốc phòng; chuyển hoạt động của địa phương sang tình trạng chiến tranh. 5. Quyết định ngân sách bảo đảm cho hoạt động quốc phòng của địa phương. 6. Giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật và thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân về quốc phòng ở địa phương. 7. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác về quốc phòng theo quy định của pháp luật. - Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân các cấp (Điều 38) Kế thừa quy định của Điều 48 Luật Quốc phòng năm 2005, Luật Quốc phòng năm 2018 bổ sung một số quy định mới cho phù hợp với nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân các cấp về quốc phòng quy định tại Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 và Luật Biên giới quốc gia. Theo đó, Luật Quốc phòng năm 2018 quy định Ủy ban nhân dân các cấp, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, thực hiện quản lý nhà nước về quốc phòng tại địa phương và có nhiệm vụ, quyền hạn sau: 1. Ban hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền để tổ chức thực hiện nhiệm vụ quốc phòng theo quy định của pháp luật, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp và các nhiệm vụ do cấp có thẩm quyền giao về quốc phòng ở địa phương. 2. Chỉ đạo và tổ chức thực hiện xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân; xây dựng thực lực, tiềm lực quốc phòng; xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc toàn diện; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân địa phương; thực hiện giáo dục quốc phòng và an ninh; tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ, tiếp nhận, tạo điều kiện giải quyết việc làm cho quân nhân xuất ngũ; phối hợp với cơ quan, tổ chức, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân có liên quan trong xây dựng phòng thủ quân khu theo quy định của pháp luật. 3. Trình Hội đồng nhân dân cùng cấp dự toán ngân sách bảo đảm cho hoạt động quốc phòng; chỉ đạo và tổ chức thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp về bảo đảm ngân sách cho hoạt động quốc phòng ở địa phương. 4. Chỉ đạo và tổ chức thực hiện việc xây dựng, huấn luyện, hoạt động, bảo đảm chế độ, chính sách đối với Bộ đội địa phương, lực lượng dự bị động viên, Dân quân tự vệ. 5. Chủ trì hoặc phối hợp xây dựng, quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng, khu quân sự, khu kinh tế - quốc phòng trên địa bàn; thực hiện các biện pháp phòng thủ dân sự; chính sách hậu phương quân đội; chính sách ưu đãi người có công với cách mạng; chi viện nhân lực, vật lực, tài chính cho lực lượng vũ trang nhân dân hoạt động trên địa bàn địa phương làm nhiệm vụ trong tình trạng khẩn cấp, tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, tình trạng chiến tranh. 6. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác về quốc phòng theo quy định của pháp luật. - Nhiệm vụ, quyền hạn của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận (Điều 39) Trên cơ sở các quy định của Điều 49 Luật Quốc phòng năm 2005, Luật Quốc phòng năm 2018 quy định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, phối hợp với Bộ Quốc phòng và cơ quan, tổ chức liên quan có trách nhiệm tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện pháp luật về quốc phòng; giám sát việc thực hiện pháp luật về quốc phòng của cơ quan, tổ chức, cá nhân. 7. Điều khoản thi hành (Chương VII) Luật Quốc phòng năm 2018 quy định hiệu lực thi hành tại Điều 40, theo đó, Luật Quốc phòng năm 2018 có hiệu lực từ ngày 01/01/2019 và Luật Quốc phòng năm 2005 hết hiệu lực kể từ ngày Luật Quốc phòng năm 2018 có hiệu lực thi hành./. Nguồn: Đ/c Hồ Văn Hiển - PCT UBND xã